THANH MINH CỔ MIẾU (Chùa ông Bổn)

     

     Có thể nói, mỗi dân tộc ở Nam bộ có phong tục tập quán, tín ngưỡng sở hữu kiến trúc thờ tự khác nhau. Nhưng từ lâu họ đã sống cởi mở, chan hoà từ thực tế sản xuất và sinh hoạt. Hầu hết các lễ hội được tổ chức ở đình, chùa cả ba dân tộc từ thành thị tới nông thôn đều chật ních người tham dự, đặc biệt là sự giao lưu qua lại giữa các dân tộc với nhau. Từ lễ rước kiệu chùa Ông, chùa Bà của người Hoa, lễ thỉnh sắc Thần ở đình của người Kinh cho đến các lễ hội của người Khmer như lễ Dâng bông, lễ Phước biển, lễ Cúng Trăng (Oóc Om Bóc)… đều có sự tham gia giúp sức và chung vui của cả ba dân tộc, trở thành những ngày hội lớn thu hút đông đảo du khách đến tham quan.
 

     Trong số các dân tộc sinh sống tại Nam bộ nói chung và tỉnh Sóc Trăng nói riêng, đồng bào người Hoa thường có tập tính sống tập trung ở nơi phố thị, làm đầu mối thu mua sản phẩm nông nghiệp cho người Kinh và người Khmer. Mỗi cộng đồng người Hoa có thành lập Hội đồng hương riêng, lấy hội quán là các miếu thờ làm nơi sinh hoạt. Do vậy, miếu (chùa Ông hay chùa Bà) vừa là nơi thờ tự theo tín ngưỡng của dân tộc, vừa là nơi hội tụ cộng đồng để san sẻ, nắm bắt thông tin nhằm phát triển kinh tế. Với người Hoa ở tại Sóc Trăng, Hòa An Hội Quán chính là một nơi như thế.


     Được xây dựng tại làng Khánh Hưng (tổng Nhiêu Khánh), quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng vào năm Ất Hợi 1875 (triều nhà Nguyễn vua Tự Đức), nơi đây có tên gọi là Thất Phủ Miếu và có tên chữ là Hòa An Hội quán. Đến năm Tân Hợi 1911, Thất Phủ Miếu được trùng tu lần 1, đổi tên thành Hòa An Hội Quán và được giữ nguyên đến ngày nay, thường được dân gian quen gọi là chùa Ông Bổn (Bổn Đầu công) nơi thờ cúng ông Bổn (người Hoa còn gọi là A Côn - Trịnh Ân), vị phúc thần (Cảm Thiên Đại Đế). 


     Ngày xưa, Chùa Ông Bổn nằm trên đường Hàng Me, sau đổi thành đường Hàng Sao rồi thành đường Đại Ngãi, là con đường trung tâm tỉnh lỵ thuộc làng Khánh Hưng, quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Qua nhiều lần trùng tu, hiện nay Chùa vẫn tọa lạc tại vị trí cũ nhưng theo địa giới hành chính mới có địa chỉ là số 09, đường Nguyễn Văn Trỗi, Khóm 1, Phường 1, thành phố Sóc Trăng. Địa điểm này thuận tiện cả về đường bộ lẫn đường thủy khi du khách muốn đến tham quan di tích.
     Khác với các ngôi chùa Hoa khác, Chùa Ông Bổn lập ra để thờ Trịnh Ân, một viên tướng vào đời Tống, người có công lao giữ yên bờ cõi, được nhân dân tôn thờ. Chuyện xưa kể rằng, ông Trịnh Ân là vị phó quan khai quốc phong thần, văn võ song toàn trong triều vua nhà Tống ở Trung Quốc. Ông lập được nhiều công lớn trong việc dạy dân bền chí làm ăn để khẩn hoang lập ấp và khuyên mọi người biết giữ đạo lễ nghĩa, thuần phong mỹ tục. Nhưng chẳng may ông bị gian thần hãm hại khép vào tội chết. Lúc xử trảm ông, đất trời cảm động trút một cơn mưa lớn, điểm vầng sắc hồng. Dân chúng trong vùng thấy điềm trời linh hiển nên càng tỏ lòng thương tiếc, họ lập miếu thờ ông làm vị phúc thần. Sự việc này sau đó lan truyền đến triều đình, khiến vua tỉnh ngộ, thương cảm phong sắc cho ông chức tước “Cảm Thiên Đại Đế” (lòng trung cảm động đến trời), tức là Ông Bổn được dân chúng sùng kính, tôn thờ đến ngày nay.
    Chùa được xây dựng tổng thể kiến trúc theo hình chữ "Phú" - tượng trưng cho sự ấm no, phú quý theo quan niệm của người Hoa. Tuy không cao nhưng thoáng đãng, mái lợp ngói âm dương màu xanh, theo lớp tam cấp kết hợp với gốm tráng men màu của tượng “Bát tiên thí võ”, “Lưỡng long tranh châu”, “Mẫu đơn phụng”… tượng trưng âm dương hòa hợp, sung túc, no đủ nên càng tôn thêm vẻ tôn nghiêm của ngôi chùa. Phía trước mái hiên chùa, có treo một dãy đèn lồng đỏ, càng làm tôn vinh thêm vẻ đẹp rực rỡ của ngôi chùa.
    Ngôi chùa có mặt tiền hướng về phía Nam. Hai bên tả hữu tô đá rửa, được nghệ nhân đắp nổi bằng xi măng, rộng khoảng một thước, là hai đại tự Tăng Phước, ngụ ý chúc bà con phật tử hưởng thêm nhiều phước lộc, tạo thêm vẻ bề thế cho ngôi chùa. Ngoài ra, ở bên hữu khuôn viên chùa còn có ngôi miếu nhỏ thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh, tượng trưng cho thần thổ địa của địa phương.
Bước vào cổng chùa, ta bắt gặp bức hoành phi điêu khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng, đề tên chữ của di tích “Hòa An Hội Quán”, bên dưới bức đại tự có đôi lân bằng đá, người Hoa tín ngưỡng gọi là “Nhị lân quản ngỏ”, được các nghệ nhân tạo tác rất công phu, sắc sảo dùng để đỡ bức đại tự. Tiếp đến, là đôi cánh cửa gỗ, họa hình tướng Uất Trì Cung, Tần Thúc Bảo (danh tướng đời Đường), làm hai vị thần hộ môn trông rất uy nghi, lẫm liệt. 
      Tổng thể kiến trúc di tích này từ phần chân cột, đá xanh viên nền “Tam cấp” đến khung cửa chính của ngôi chùa… đều được các nghệ nhân người Hoa đời trước tạc bằng đá tảng từ Trung Quốc chở qua. Ngôi chùa được thợ xây dựng “Vân kim tam cấp” qua thước Lỗ Ban, theo hình chữ “phú”, tượng trưng cho sự sung túc, phú quý theo quan niệm của người Hoa.
    Vào bên trong ngôi chùa, du khách sẽ choáng ngợp trước một loạt các bức hoành phi câu đối bằng chữ Hán, được treo và ốp cột từ gian tiền điện đến gian chánh điện, với nội dung ca ngợi công đức của các vị thần. Chánh điện bao gồm ba gian chính: gian giữa thờ Trịnh Ân, tức Cảm Thiên Đại Đế là vị phúc thần trong tâm thức của bà con người Hoa nơi đây; bên trái là hương án thờ Phúc đức chính thần, bên phải là trang thờ Thiên Hậu thánh mẫu. Ở khoảng trống hai bên trung điện được nghệ nhân Nguyễn Chinh xây bàn thờ bằng đá mài, đắp nổi hai bức tranh lớn bằng xi măng “Tả Thanh Long”, “Hữu Bạch Hổ”, đúng theo thế phong thủy, nên tại đây còn có hai khoảng trống thông thoáng gọi là “thiên tỉnh” (giếng trời). Nhờ có “thiên tỉnh” đã tạo cho không gian chùa thoáng đãng, tạo ánh sáng cho hậu cung của chánh điện và có chỗ thoát khói của trầm, hương được đốt khi cúng lễ đông người.
     Trong nội điện có tổng cộng 05 đôi cột gỗ vuông, một đôi cột tròn (long trụ) vẽ hình rồng, 1 đôi cột tròn đỡ bức hoành phi chính, và 1 đôi cột vuông bên bệ thờ gắn những câu đố bằng gỗ quý có niên đại từ năm (1875 - 1912). Đặc biệt nhất hiện nay, chùa vẫn còn lưu giữ, bảo quản hầu như nguyên vẹn 10 biển câu đối bằng gỗ quý và 10 bức hoành phi, nằm ở tả, hữu bàn thờ ông Phước Đức và bà Thiên Hậu Thánh Mẫu, đều khắc Đại tự bằng tiếng Hán cổ, được sơn son thếp vàng, chạm trổ khuôn viền tinh xảo với các đề tài trang trí như tứ linh, cá hóa long, rồng hóa long dây lá, mây hạc, tam giới cộng đồng, phước lộc thọ… có niên đại từ năm 1875 đến 1912. Tiêu biểu như các bức hoành phi bằng chữ Hán cổ, hoàn thành năm dân quốc thứ nhất, vào tháng 3 năm Nhâm Tý 1912; bức hoành phi “Hộ ngã đồng nhơn” (bảo hộ đồng bào), hoàn thành tháng 11 năm Nhâm Ngọ 1882; các bức hoành phi “Minh đức di hân” (chỉ có tiếng thơm của “Minh Đức” là trên hết), hoàn thành vào năm Quang Tự thứ nhất, tháng 2 năm 1875 và bức hoành phi “Quản kết thiện duyên” (đoàn kết rộng rãi mọi người để làm việc thiện), hoàn thành vào tháng 9 năm 1875… là những bức hoành phi có niên đại cổ nhất, cách nay gần 130 năm.
    Ngoài ra, Chùa còn nổi tiếng là nơi lưu giữ nhiều cổ vật quý hiếm như tượng gỗ thờ Ông Bổn, Ông Phước Đức, Bà Thiên Hậu, bộ lư quỳ cổ hình thái tuế, ba bộ lư vuông, cặp hạc rùa ngậm hoa sen bằng kim loại màu… Tất cả đều là các tác phẩm nghệ thuật được các nghệ nhân chạm khắc ba lớp và dát vàng rất tinh xảo.
    Cũng như các ngôi chùa khác, chùa Ông Bổn luôn giữ gìn những sinh hoạt tín ngưỡng thường nhật, lễ, tết của đồng bào người Hoa như tết Nguyên tiêu, ngày vía A Côn (ông Bổn), tết Trung Thu, tết Đoan Ngọ… Riêng tết Nguyên tiêu, tại chùa còn diễn ra lễ đấu giá lồng đèn, mỗi chiếc lồng đèn được thiết kế rất tinh xảo, đẹp mắt, được trang trí hoa văn, tranh ảnh và đặc biệt là những câu chúc phúc bằng chữ Hán như “Hợp gia bình an”, “Sanh ý hưng long”, “Tài nguyên quản tấn”, “Kim ngọc mãn đường”, hòa cùng với những con rồng được thếp vàng lộng lẫy xung quanh các góc cạnh. Hơn thế nữa, chiếc lồng đèn nào cũng có miếng ngọc bội màu xanh và thắt nơ đỏ được người Hoa rất coi trọng là những màu tốt lành, thể hiện sự may mắn trong năm, phía dưới treo lủng lẵng một miếng thẻ bằng nhựa màu vàng ghi chữ đỏ trên từng loại đèn. Lễ hội này mang ý nghĩa tăng thêm không khí vui tươi hạnh phúc đón chào năm mới, thể hiện tinh thần đoàn kết trong cộng đồng các dân tộc trong tỉnh. 
     Trong nhiều năm qua, Ban quản trị chùa Ông Bổn cùng những doanh nghiệp người Việt gốc Hoa ở Thành phố Sóc Trăng, thường xuyên hỗ trợ kinh phí cho giáo viên dạy bổ túc Hoa văn, xây dựng phòng học, cấp tập viết cho học sinh nghèo hiếu học; cất nhà tình nghĩa, nhà tình thương cho các gia đình chính sách và các hộ nghèo; ủng hộ đồng bào miền Trung bị thiên tai, lũ lụt; tổ chức thăm viếng, tặng quà các cụ nhân ngày Quốc tế Hội người cao tuổi; cấp phát gạo cho người nghèo trong dịp lễ Vu Lan… góp phần cùng chính quyền địa phương phục vụ tốt công tác phúc lợi xã hội cho các gia đình chính sách và hộ nghèo trong tỉnh.
     Nhìn vào hệ thống các chùa của người Hoa, chúng ta có thể thấy tính thực tiễn của cộng đồng rất cao. Điều này thể hiện ở việc thờ cùng lúc nhiều vị thần trong chùa, với mong muốn các vị thần này phù hộ cho họ về mọi mặt trong cuộc sống. Sinh hoạt tôn giáo ở những ngôi chùa Hoa không chỉ giúp cộng đồng cân bằng tâm lý, vững tin vào cuộc sống mà còn tạo sự đoàn kết trong cộng đồng giữa ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa; đồng thời góp phần tích cực vào việc từ thiện xã hội. Chùa Ông Bổn thành phố Sóc Trăng là một trong những di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật kiến trúc điêu khắc cổ rất quý giá, còn lưu giữ gần như nguyên vẹn, đang cần được bảo vệ và giữ gìn. Đây là điểm đến của nhiều khách thập phương gần xa, đến viếng chùa, tìm hiểu nét kiến trúc độc đáo tinh xảo của người Hoa, tạo cảm giác thư thái, thoải mái và cảm thấy tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của mình. 
    Với những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào người Hoa nơi đây, ngày 12 tháng 5 năm 2004, di tích Hòa An Hội Quán được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh theo Quyết định số 655/QĐHC.04-CTUBT. 

                                                                                                                                         Cẩm Tú

Tài liệu tham khảo
1. Lý lịch di tích Hòa An Hội Quán của Bảo tàng tỉnh.
2. Người Hoa Sóc Trăng giai đoạn (1930 - 1975).
3. Chuyện xưa tích cũ đất Sóc Trăng - Vương Hồng Sển.
4. Đình Nam bộ tín ngưỡng và nghi lễ - các tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường.
5. Khảo sát thực tế tại chùa ông Bổn.
 

 
 
 
 

LIÊN KẾT WEBSITE