NGÔI CHÙA GẮN VỚI TÊN LOÀI HOA CHĂM PA

     Từ ngã ba An Trạch rẽ theo hướng về huyện Kế Sách khoảng 05km là tới chùa Chăm Pa thuộc ấp Phước Long, xã Phú Tân, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

       

Chánh điện chùa Chăm Pa

     Với tên gọi chùa Chăm Pa, đã gieo trong lòng người nghe mường tượng đến loài hoa năm cánh, có nhuỵ vàng cánh trắng hoặc đỏ. Hoa có màu sắc tinh khiết, mùi hương thanh nhã, thơm ngát, hương sắc lan tỏa làm say đắm lòng người.

     Trong bài dân ca “hoa đẹp Chăm Pa” của nước bạn Lào, có đoạn:

     “Hoa Chăm Pa ơi, nức muôn hương trời, sắc reo ngàn lối, trăm thắm ngàn tươi khôn sánh kịp hương sắc Chăm Pa ơi”... “Ngạt ngào hương thơm, vấn vương trong lòng, sắc hoa đẹp mãi. Hương ngát làm tôi trăm nhớ ngàn thương bóng ai thầm yêu”.

Cổng chùa Chăm Pa

     Chùa Chăm Pa, người Khmer gọi là Wat Chăm Pa hay Von Na Ram đều có thể hiểu là chùa cây sứ. Tên chùa Chăm Pa xuất phát từ vùng đất trên giồng cát cao ráo, có khu rừng hoa sứ trắng, đỏ. Trong đó, có 01 cây hoa sứ cổ thụ màu đỏ cho hoa quanh năm và hương thơm lan tỏa cả vùng. Nên khi xây chùa bà con chọn đặt tên chùa là Chăm Pa để luôn nhớ đến vùng đất có loài hoa này. Qua mấy trăm năm, cây sứ ngày xưa không còn nữa. Hiện nay, trong chùa có trồng mới 02 cây sứ trước lối vào nhà đại đức trụ trì.

     Ngày xưa, vùng đất này còn nổi tiếng với tên gọi gắn với sản vật nổi tiếng của địa phương (như trái cây, khô, cá... để trao đổi, mua bán) là “Kong Pong Thom”, có nghĩa là “Bến lớn”. Trong quá trình phù sa bồi đắp, các giồng đất theo tuyến: Chung Đôn, Giang Cơ, Đại Ngãi lộ hẳn lên khỏi mặt nước và nước tràn về “Kong Pong Thom” đã khiến nơi này trở thành một đầm nước khá lớn nên người dân lúc bấy giờ đã “quyền biến” dịch “Kong Pong” thành chữ “Vũng” và chữ “Thom” thành chữ “Thơm” từ đó gọi là Vũng Thơm để dễ phát âm và có ý nghĩa hoa mỹ.

Bệ thờ nơi chánh điện

     Từ xưa, vùng đất Vũng Thơm đã rất nổi tiếng với bến cảng tự nhiên của dân bản địa trong giao lưu trao đổi hàng hóa, sản vật của địa phương với các thương nhân bên ngoài. Ngoài ra, nơi đây còn lưu lại nhiều truyền thuyết nói về dấu tích một “con đường tơ lụa”của vùng sông nước. Chính vì điều kiện thuận lợi trong việc giao thương hàng hóa, một phần được thiên nhiên ưu đãi, nên vùng đất này đã hình thành những khu dân cư, sớm nhất là cộng đồng người Khmer. Ở các tỉnh Nam bộ gần như tỉnh nào cũng có huyện Châu Thành. Tên gọi từ “Châu Thành” vốn là một từ Hán - Việt, có nghĩa là chỉ một nơi có phố phường, thành thị, nơi dân cư đông đúc, khu vực chính một xứ hay một tỉnh, có vùng đất bao quanh, ở cạnh thành phố, thị xã [1].

     Do nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng, nơi nào có đồng bào người Khmer sinh sống thì nơi đó sẽ có chùa. Đối với người Khmer ngôi chùa không những là nơi chứa đựng những giá trị tâm linh, tín ngưỡng sâu sắc, nơi sinh hoạt tôn giáo mà còn là một trung tâm sinh hoạt văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương. Theo lời kể của sư Lin [2], sư Phó trụ trì nhà chùa cho biết: chùa hình thành vào năm 1686 được xây bằng gỗ, lợp lá đơn sơ và cách chùa hiện nay khoảng 01km, gần ngay chùa Phật Nổi hiện nay.

Cây me trên 700 tuổi

     Về vị trí và chọn xây dựng chùa hiện nay, có 03 ý nghĩa:

     Thứ nhất, các vị sư mong muốn xây dựng chùa nhằm đáp ứng nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân trong vùng và khu vực nên chọn khu đất rộng lớn hơn.

     Thứ hai, chùa Chăm Pa cũ ngày xưa có vị trí gần chùa Phật Nổi, (cách chùa hiện nay khoảng 3km), theo kế hoạch nhà nước đổ đất cao hơn để làm huyện lộ (trước đó là đường làng), người dân dự đoán, khi làm lộ thì chùa Chăm Pa sẽ bị nước tràn về khu vực chánh điện, gây khó khăn cho bà con đến cúng bái Phật nên di dời về vị trí chùa hiện nay [3].

     Thứ ba, là do bị nước ngập, có những đàn trâu sáng lội đi cày ruộng, chiều lội về đã tạo thành những hào nước sâu hơn, nên có nhiều tôm cá trù phú. Và nơi đây đã thu hút những con chim, cò đổ về tìm thức ăn. Trong đó, có những đàn chim Bồ Nông to lớn, chúng đi săn mồi về đến vùng đất này thì sãi cánh xuống và nhã (ói ra) thức ăn dự trữ ở cổ. Một số người dân ra nhặt về làm thức ăn.

     Những người dân địa phương, trong đó có các thương gia Ba Tàu (người Hoa) tin đây là một điềm may mắn, họ cho rằng loài chim vô tri cũng đem một số lợi ích cho người dân. Từ đó, họ nói với nhau rằng nếu như khu đất này dùng để xây dựng chùa thì điều may mắn và mang lại nhiều phúc phần cho đồng bào Khmer. Về sau chùa sẽ ngày càng được xây dựng khang trang và giàu có. Từ ý nghĩa trên nên chùa được dời về vị trí hiện nay và vẫn được dựng lên với kết cấu cột gỗ, vách ván, lợp lá đơn sơ.

     Trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa, chùa được đại trùng tu lớn nhất thay đổi toàn bộ ngôi chánh điện và được bê tông hóa vào năm 1969 và đến năm 1973 thì hoàn thành với tổng kinh phí xây dựng ngôi chánh điện là 13 triệu đồng do bà con Phật tử đóng góp. Trong đó có ông tá điền ở Phước Lợi (là anh em rể với ông Nguyễn Văn Thiệu) vận động được ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên Tổng thống chế độ Việt Nam Cộng Hòa [5] thời kỳ 1967 - 1975 đóng góp 01 triệu đồng (người đóng góp nhiều nhất).

     Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, chùa Chăm Pa đã có nhiều đóng góp cho cách mạng và có ảnh hưởng rất lớn đối với đồng bào Phật tử trong việc nuôi chứa nhiều cán bộ cách mạng là người Khmer như ông Tà Ruôi, Tà Éch, Tà Ben, Tà Sol, Tà Mỹ, Tà Nuôl và là nơi tổ chức nhiều cuộc họp bí mật của tổ chức cách mạng địa phương. Ngoài ra, chùa còn là nơi hoạt động bí mật, nơi quy tụ thanh niên Khmer vào tu học với mục đích trốn đôn quân bắt lính của địch trong sự che chở bảo vệ của nhà chùa. Trong đó, có vị sư Lâm Thầu Luôi (thời đại đức Lâm Út trụ trì từ năm 1943 - 1958) khi bị địch ruồng bắt, sư đã vận động một số sư sãi cùng sư trốn vào vùng giải phóng tham gia cách mạng lập nhiều thành tích; có vị đại đức Kim Keo (1968 - 1973) đã vận động bà con tín đồ Phật tử tham gia phong trào kháng chiến, sư đã cho gần 500 người tu ở trong chùa để hoạt động cách mạng. Ngoài ra, trong chùa còn có hầm bí mật, là nơi ẩn náu cho cán bộ hoạt động cách mạng.

     Trải qua 330 năm từ lúc thành lập đến nay, chùa đã trải qua 17 đời trụ trì. Từ năm 2008 đến nay là đại đức Thạch Sươl làm trụ trì. Mỗi vị trụ trì đều tạo phúc đức, hoàn thành tâm Phật, chăm lo hướng thiện cho phật tử; vận động bà con, tín đồ phật tử tham gia đóng góp xây dựng nhiều công trình đáng kể như: công trình nhà sala, trường phổ thông, trường dạy giáo lý, công trình lò hỏa thiêu...

     Với tổng diện tích khoảng 06 ha, chùa có nhiều công trình, kiến trúc nổi bật và có nhiều cây cổ thụ tạo bóng mát. Trong đó phải kể đến 02 cây me, 01 cây trên 700 tuổi, có chiều cao khoảng 30m, phần thân gốc rất to, có bề hoành khoảng 5 - 6 ôm tay của người lớn và 01 cây là trên 300 tuổi; 01 cây Lộc Vừng khoảng 150 năm. Ba cây cổ thụ này đã tồn tại trước khi di dời và xây dựng chùa về vị trí hiện nay; có 06 cây đào hồng nhung cho trái quanh năm, điểm đặc biệt cây đào hồng nhung ở chùa Chăm Pa khác với các cây đào hồng nhung ở chùa khác là trái không có hạt và khi trái chín có mùi thơm ngào ngạt và có vị ngọt khác hẳn nơi khác.

     Cổng ngoài (cổng chính) nằm giáp Tỉnh lộ 1 đi về huyện Kế Sách, cách chợ Phú Tâm khoảng 500m. Cổng có chiều ngang khoảng 4m, cao khoảng 8m, mặt chính quay về hướng Đông (mặt trước), phần chân là hai cột tròn có bề hoành hơn một vòng tay ôm của người lớn, được sơn màu hồng phấn nổi bật. Ở hai góc cột trên có nàng Keyno dang rộng đôi tay chống đỡ cổng chùa. Phía trên là cả một khối cấu trúc kiên cố và cổ xưa, tất cả có 3 khối bê tông, khối giữa cao hơn 02 khối hai bên tạo nên nét thẩm mỹ hài hòa, cân đối. Các khối được xây theo kiến trúc hình tháp nhọn có 04 tầng dưới hình vuông sơn son thếp vàng, cách các tầng là mảng màu xanh nhạt và 02 tầng trên là hình hoa sen màu hồng phấn, trên cùng là mẫu hình hồ lô có 02 ngấn và nhỏ dần lên trên. Có thể nói, hiện nay cổng chùa Chăm Pa còn lưu giữ được nét kiến trúc cổ xưa. Phần đề tên chùa được viết thành 02 ngôn ngữ Việt - Khmer được đắp nổi bằng xi măng. Phía trên nơi đề tên chùa là phong cảnh sơn thủy có 02 đội, 01 đội nam 07 vị và đội nữ 08 vị cũng được dùng xi măng đắp nổi tinh xảo, đang trong tư thế chơi trò chơi dân gian kéo co. Ở mặt sau, về kiến trúc giống như mặt trước, chỉ khác là không đề tên chùa và thay đổi hình tượng chơi trò chơi dân gian kéo co mà thay vào đó là đoàn người đang bơi ghe ngo truyền thống của bà con Khmer. Cả hai biểu tượng này đều tượng trưng cho sức mạnh, đoàn kết và chiến thắng.

     Từ cổng ngoài đi vào chùa theo con đường làng được bê tông hóa, rộng khoảng 05m, hai bên là nhà dân, có nhiều bà con người Khmer đang sinh sống. Mất khoảng 5 phút đi bộ, 2 bên đường dẫn đến cổng chùa dài hơn 100m là cánh đồng lúa xanh thăm thẳm, xa xa là hàng cây thốt nốt, xếp hàng đứng thẳng tắp, xòe lá sum xuê chào đón du khách. Có thể nói cây thốt nốt là loại cây được xem là biểu tượng văn hóa của nước Indonesia, Campuchia và một số tỉnh Nam bộ của Việt Nam. Những nơi được trồng nhiều cây thốt nốt là ở khu vực chùa chiền và trong phum sóc có đông bà con Khmer sinh sống như ở tỉnh An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh và Sóc Trăng [6]... Ngoài ra, loại cây này có nhiều lợi ích về kinh tế. Từ thân, lá và trái đều được con người khai thác sử dụng hiệu quả và bổ ích như nước được dùng để làm đường thốt nốt, cái, cơm thốt nốt dùng để ăn với đá đường, thân cây được xả làm ván, lá dùng để chầm làm mái che hiên hoặc lợp nhà...

     Để đi vào trong khu vực chùa phải qua một cánh cổng được xây dựng kiên cố. Hai bên vách cổng đều được đắp nổi bằng xi măng với hình tượng rắn thần Nagar dùng để trang trí. Bên trên cổng là khối kiến trúc được xây thành hình tháp có 03 khối bê tông vững chắc và tháp chính giữa cao hơn tháp ở hai bên, mỗi tháp có 03 tầng và nhỏ dần lên trên, phía trên cùng là hình nón bằng. Bước qua cổng, bên trái là ngôi trường Tiểu học Phú Tân A, gồm 05 phòng, nơi nhà Chùa hiến đất cho nhà nước xây dựng nhằm giúp đỡ con em đến trường được gần hơn. Bên phải là cả một làng tháp để tro cốt người mất, và xa xa là công trình nhà hỏa thiêu. Theo đường đal vào bên trong khu vực trung tâm ngôi chùa, là những hàng cây dầu, cây sao lâu năm. Những cành lá xum xuê mang lại làn gió tươi mát cho lữ khách đến viếng chùa.

     Chánh điện là công trình chính và nổi bật nhất của ngôi chùa Chăm Pa. Phía trước chánh điện có hai cây cột dùng để treo cờ nhân các ngày lễ tết cổ truyền và hai “Pì chét đây” là nơi để tro cốt, nơi cầu siêu cho người đã khuất được dựng vào ngày 29/12/1975. Chánh điện được bao bọc bởi hàng rào cao 3m. Để lên đến chánh điện phải đi qua hai bậc, mỗi bậc có 04 lối lên chánh điện (2 bậc x 4 lối lên). Bậc thứ nhất cao 01m được tráng xi măng với diện tích rộng 50m x 30m. Ở bậc này, lối vào chính có đặt 01 bàn ông thiên ở phía tay phải, 02 bên tả, hữu gần bậc hai có 02 tháp Thổ Địa. Ở hai bên sân này có 06 ngôi tháp để tro cốt. Bậc thứ hai cao hơn bậc một 2m, hành lang rộng 01m, được xây bao vòng rào lan can với 10 cột tròn và 04 cột ở mỗi mặt đỡ lấy mái ngôi chánh điện. Tổng diện tích ngôi chánh điện là 383.5m2 (dài 59m x rộng 6.5m).

     Ở bốn lối vào ngôi chánh điện (bậc 2), mỗi lối vào đều có cặp đôi linh vật chầu mời du khách. Lối chính hướng Đông có cặp tượng Voi trắng, người Khmer gọi là “Prơơ rậy”: Tượng trưng cho trí tuệ vượt chướng ngại, 6 ngà tượng trưng cho sự chiến thắng sáu căn (06 giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); lối vào cửa Nam là cặp Kỳ Lân “Rêch Chăs Sây”. Trong đạo Phật, Rồng năm đầu tượng trưng cho năm vị Phật trong thế gian, là biểu tượng của ngũ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc và phương trung tâm, tức phương của cõi lành). Trong năm vị Phật này có vị PRES ARÂY YĂ MÊT TÊ DÔ, ở dưới bệ ngồi của vị Phật này là Kỳ Lân. Năm đầu Rồng cũng là biểu tượng Ngũ giới của đức Phật mà con người có đức tin học tập làm theo: Tránh xa sát sinh; Tránh xa sự trộm cắp; Tránh xa sự tà dâm; Tránh xa sự nói dối; Tránh xa sự dễ dãi uống rượu và các chất say; lối vào cửa Tây có cặp tượng theo tiếng Khmer gọi là “Săch Tôô”, tiếng Việt là Sư Tử; lối vào cửa Bắc là cặp Hổ tiếng Khmer gọi là “Kh’la”. Hổ và Sư Tử thể hiện sự hung hãn, khi được đưa vào chùa có nghĩa là nhân cách hóa, dù con người có thói xấu, tàn bạo đến đâu khi vào chùa cũng phải cúi lạy và thuần phục bởi sự cảm hóa của Đức Phật.

     Về câu chuyện liên quan đến các linh vật trên, người Khmer có truyền thuyết kể rằng [7]: Ngày xưa động vật đều biết nói chuyện. Một hôm con Kỳ Lân nói chuyện với con Rồng, Trâu, Bò, Ngựa và Cọp: “Nè các anh, chúng ta hãy di chuyển đến nơi khác sinh sống đi, nếu không chúng ta sẽ bị loài người giết hại và làm tổn thương”. Các con Rồng, Trâu, Bò, Ngựa và Cọp hỏi; “Chúng ta đang sống rất hòa bình tại sao phải chuyển đi”. Kỳ Lân nói: “Con người tuy nó nhỏ xíu mà nó dám ngậm cả lửa nữa đó mấy anh không thấy à!” (nghĩa là nói con người biết hút thuốc). Con Voi trả lời: “Hứ... con người cái đầu nó nhỏ hơn bắp chân của ta làm sao mà nó dám giết hại hay tổn thương mình được”. Kỳ Lân nói:  “Anh không tin sau này tụi nó cất nhà trên lưng anh nữa đó, không tin anh hãy đợi xem!”. Quả thật ngày nay, ngoài việc con người dùng sức Voi để cộ đồ, mà còn dùng sức Voi phục vụ trong thu hút du lịch như đặt kiệu trên lưng Voi để chở khách tham quan thôn, bản,.. Tuy Voi có đôi lời tranh luận với Kỳ Lân. Nhưng cuối cùng các con vật đều thống nhất hẹn ngày, giờ để cùng di chuyển đến nơi khác. Đến hẹn, Kỳ Lân và Rồng đã sẵn sàng xuất phát. Cọp thì không nhớ ngày, giờ hẹn nên đi săn mồi. Còn Voi, Trâu và Bò vừa mới ăn cỏ xong, trời lại nóng nực nên đã xuống đầm tắm mát và dùng dằng không chịu lên, kêu 02 con kia đợi chút. Đợi không được, Kỳ Lân và Rồng đi mất. Một lúc sau, mấy con tắm mát dưới đầm lên không thấy 02 con kia đâu. Nhìn xa xa thấy có đốm vàng vàng, nghĩ là con Rồng và Kỳ Lân đang đợi mình ở đó, nên kéo nhau chạy đến thì gặp vườn chuối, có lá già chuyển màu vàng, con Trâu tức tối trong mình, liền húc ủi luôn mấy bụi chuối. Nên theo dân gian: Con Trâu thấy có vườn chuối là sẽ húc ủi bỏ.

     Vì không biết đường đi nên các con Trâu, Bò, Voi, Ngựa ở lại sống với loài người hoặc làm vật nuôi của con người. Còn Kỳ Lân và Rồng đi đến nơi gọi là Pri hêe Prem (khu rừng huyền thoại, ở nơi đó không có con người sinh sống), nên đến nay chúng ta cũng không biết hình dạng thực sự Kỳ Lân và Rồng như thế nào. Chúng chỉ sống trong trí tưởng tượng và qua bàn tay của họa sĩ vẽ với nhiều hình dáng khác nhau, tùy thuộc vào dân tộc và tôn giáo tín ngưỡng mỗi quốc gia, dân tộc.

     Chánh điện chùa có 04 cửa ra vào bằng gỗ tương ứng với mỗi hướng có mỗi cặp thú trên. Trên vòm cánh cửa là hình tượng đức Phật ngồi thiền trên hoa sen tượng trưng cho sự cao quý của cái thiện. Theo chiều dài mỗi bên vách tường có 06 cửa sổ bằng gỗ, chiều ngang mỗi bên có 02 cửa sổ cũng đều bằng gỗ. Trên vòm cửa sổ được trang trí hoa văn đắp nổi với hình tượng Phật ngồi trên Reahu, biểu tượng cho cái thiện luôn thắng cái ác. Những cánh cửa gỗ ở Chùa này cũng là những cánh cửa được sử dụng cả trăm năm nay, khác hẳn với một số ngôi chùa Khmer khác trong tỉnh hiện nay sử dụng cửa kéo hoặc cửa sắt cho dễ tiện dụng.

     Về kết cấu, mái chánh điện được xây và lợp gồm 03 cấp mái chồng lên nhau, mỗi cấp chia thành 03 nếp, nếp ở giữa được nâng cao hơn hai nếp bên, hai mái trên cùng hợp thành đỉnh mái chùa ở góc 60 độ, giữa đỉnh mái có 01 bình hồ lô cao vút lên trên. Theo lời kể của Trụ trì chùa Trà Quýt cũ, Hòa Thượng Thạch Thi: ông Nguyễn Văn Thiệu sau khi đóng góp tiền xây dựng chánh điện, ông cũng phát tâm xin phép nhà chùa cho ông tiếp tục được góp phần xây tiếp phần nóc chánh điện và được đại đức Kim Keo (1968 - 1973) chấp thuận. Sau đó đại đức vẽ hình thù của chiếc hồ lô gồm có 04 ngấn, ngấn dưới cùng to hơn và nhỏ dần lên trên rồi cho ông Thiệu đi đúc; bình có chất liệu bằng thau, nặng khoảng 50kg cao gần 01m, khi hoàn thành ông Thiệu cho trực thăng bay gắn bình hồ lô trên đỉnh cao của nóc chánh điện (vào năm 1973). Hai mái dưới thấp hơn nghiêng khoảng 30 độ. Mái lợp ngói, trên các mái chồng lên nhau và dọc theo chiều dài đòn dông có trang trí hình tượng đuôi rắn thần Nagar. Nơi cột tiếp giáp mái được trang trí hình tượng Keynor hai tay đưa lên chống đỡ mái chánh điện tạo nên sự mềm mại, thanh thoát nhẹ nhàng, như chống đỡ cả bầu trời để che chỡ cho con người ở trần gian. Keynor là tiên nữ trong tâm linh và biểu tượng cho vẻ đẹp thuần khiết của người phụ nữ Khmer.

     Bên trong chánh điện có hai hàng cột tròn, mỗi hàng có 06 cột. Nơi bệ thờ có 03 nếp thờ, thờ rất nhiều tượng Phật với nhiều tư thế, chất liệu khác nhau. Trong đó có 01 tượng Phật Thích Ca bằng xi măng cao 02m ngồi thiền trên bệ thờ hình cánh sen, hình lửa, mắt hé mở, đôi mày cong, miệng hơi mỉm cười, từ nền chánh điện lên là 03m. Trên trần và tường bên trong chánh điện được vẽ tranh sơn dầu kể về tích truyện cuộc đời, gia đình và quá trình tu thành Phật của Thái tử Tất Đạt Đa.

     Hiện nay, chùa Chăm Pa có trên 20 sư sãi tu và học giáo lý Phật giáo. Ngoài việc sinh hoạt và tổ chức các lễ, hội thường niên theo Phật giáo, nhà chùa còn làm ruộng với diện tích 1,2 ha để phục vụ đời sống cho các vị sư và gây quỹ cho chùa.

     Có thể nói ngoài vị trí, vai trò là nơi tu Phật, nơi tập trung sinh hoạt văn hóa, giáo dục của Phật tử trong vùng, chùa Chăm Pa từng là nơi nuôi, chứa nhiều cán bộ cách mạng địa phương. Các vị sư đã đóng góp nhiều công sức trong quá khứ cũng như giai đoạn hiện nay. Các vị sư, Ban Quản trị và Phật tử của chùa Chăm Pa luôn gìn giữ và phát huy các giá trị về văn hóa truyền thống, tình yêu quê hương đất nước, nuôi dưỡng, hỗ trợ giáo dục trẻ em được đến trường góp phần cùng địa phương xây dựng ấp, xã văn hóa. Nhà chùa đang tiếp tục kêu gọi Phật tử đóng góp để xây dựng tôn tạo cảnh quan cho Chùa ngày càng khang trang hơn, thu hút du khách đến khám phá và trải nghiệm./.

Tài liệu kham khảo:

[1]. Vài nét về huyện Châu Thành - https://vi.wikipedia.org/wiki/Châu Thành - Sóc Trăng.

[2]. Tiếp xúc nhân chứng: Phó trụ trì chùa Chăm Pa, sư Lin vào ngày 12/8/2016.

[3]. Tiếp xúc nhân chứng: Trụ trì chùa Trà Quýt cũ, Hòa Thượng Thạch Thi (đã tu tại chùa Chăm Pa từ năm 1949 - 1976, đến năm  2016 hòa thượng được 84 tuổi) vào ngày 09/10/2016.

[4]. Tiếp xúc nhân chứng: Phó trụ trì chùa Chăm Pa, sư Lin vào ngày 12/8/2016.

[5]. Giai đoạn 1955 - 1975: Thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa, địa bàn quận Châu Thành được tách ra để thành lập mới quận Bố Thảo. Sau năm 1956, quận Châu Thành thuộc tỉnh Ba Xuyên, gồm 2 tổng: Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa với 12 xã trực thuộc.

[6]. https://vi.wikipedia.org/wiki/Thốt - nốt; http://www.dulichvn.org.vn.

[7]. Tiếp xúc, câu chuyện kể của người dân địa phương: Ông Lâm Liếp - xã Phú Tân, huyện Châu Thành, vào ngày 9/10/2016.

 

Lý Thị Phương

 
 
 
 

LIÊN KẾT WEBSITE