WATH SÊRÂYTÊCHÔ – MAHATUP BÍ ẨN VỚI NHỮNG TRUYỀN THUYẾT

      Sóc Trăng là một trong những địa phương có số lượng đình, chùa, miếu nhiều nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Toàn tỉnh hiện có hơn 200 ngôi đình, chùa, trong đó thành phố Sóc Trăng có khoảng 50 ngôi cổ tự. Một trong những ngôi chùa Khmer được nhiều du khách ghé tham quan đông nhất là chùa Mahatup hay còn gọi là chùa Dơi. Chùa tọa lạc tại đường Văn Ngọc Chính, phường 3, thành phố Sóc Trăng, có quần thể kiến trúc đẹp và độc đáo, đặc biệt là được nhìn ngắm đàn dơi đang cư ngụ trong khuôn viên chùa gắn liền với nhiều truyền thuyết hấp dẫn và lôi cuốn.     

Chánh điện chùa Dơi

         WathSêrâytêchô - Mahatup là phiên âm từ tiếng Khmer, về sau đồng bào người Kinh và Hoa đọc trại từ Mahatup thành “Mã Tộc”. Cho nên cũng có nhiều người gọi là: “chùa Mã Tộc”. Từ “Mã Tộc” cũng được gọi cho một địa danh từ một ngã ba đường rẽ vào chùa Dơi, như một làng nhỏ, nơi sinh sống cộng cư của 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa từ bao đời nay. Theo nghĩa từ tiếng Khmer, Mahatup là trận đánh lớn (Tup: trận đánh; Maha: lớn). Theo các vị Achar (người hoằng pháp chuyên lo hướng dẫn nghi lễ trong chùa) kể rằng, xưa kia nơi đây đã từng diễn ra một trận đánh ác liệt của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến trên tuyến đường dài 2km. Sau trận đánh thắng lợi đó, dân chúng tản cư trở về sinh sống, họ cho rằng vùng đất này có điềm lành, nên xây chùa thờ Phật tại đây.

Đoàn khách tham quan, chụp ảnh lưu niệm tại cổng chùa Dơi

     Theo thư tịch cổ của chùa còn ghi chép để lại: Chùa được khởi công xây dựng từ năm 1569 dương lịch, cách nay 447 năm, do ông Thạch Út đứng ra xây dựng. Qua nhiều lần trùng tu, đến năm 1960 chùa sửa chữa lớn ở chánh điện. Năm 2007 ngôi chánh điện bị cháy. Đến tháng 4 năm 2009, chánh điện đã được phục chế lại như cũ. Với tổng số tiền phục dựng là 4 tỷ đồng, trong đó 3 tỷ đầu tư chánh điện và 1 tỷ đầu tư xây dựng các hạng mục lan can quanh hồ nước, hệ thống thoát nước, nhà vệ sinh... Từ ngày 4-6/3/2010, chùa Dơi tổ chức lễ khánh thành chánh điện với nhiều nghi lễ trang trọng quy tụ hàng chục ngàn Phật tử các nơi về dự lễ.

     Kiến trúc chùa cũng giống như bao kiến trúc chùa Khmer khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, các họa tiết hoa văn trang trí mang sắc thái đặc trưng của lối kiến trúc Khmer truyền thống. Tổng thể trong khu vực chùa Dơi gồm có: Ngôi chánh điện, Sala, nhà thờ cố lục cả Thạch Chia, nhà hội của sư sãi và tín đồ, phòng ở của sư sãi, phòng khách và trụ trì, các tháp để tro cốt của người quá cố…

Dơi treo mình lủng lẳng trong khuôn viên chùa Dơi

     Chùa Dơi đến nay đã trải qua 19 đời trụ trì. Theo lời kể của các vị sư, hàng trăm năm trước, chùa là nơi hội tụ của muôn chim, cò vạc, trong đó có loài dơi quý hiếm. Đàn dơi ở chùa sống rất nề nếp, tôn ti trật tự. Mỗi lần đi kiếm ăn dơi đầu đàn bay lên dẫn đầu, sau đó lần lượt là những con dơi khác bay theo nhập đàn, chúng vừa bay vừa xếp hàng, lượn vài vòng trên bầu trời quanh khu vực chùa, như cầu khẩn Đức Phật ban phước lành trước khi đi kiếm ăn. Quang cảnh hoàng hôn ở “chùa Dơi” khá nhộn nhịp, chíu chít tiếng dơi gọi đàn, xào xạt tiếng vỗ cánh va chạm vào những cành cây, tạo nên một không khí rất thú vị, một hiện tượng tự nhiên của loài vật tạo khung cảnh nên thơ. Đặc biệt là dơi chỉ đậu trên những tán cây của khuôn viên chùa, những tán cây bên ngoài khu dân cư thì chúng không đậu; sự việc có một sư giải thích: “Đó là chuyện thường thôi, vì trong khuôn viên của chùa quang cảnh rất yên tịnh, con dơi thích nghi với môi trường hoang dã gần gũi với thiên nhiên, còn bên ngoài thì bị vây đuổi săn bắt nên nó không trú ngụ”.

Du khách tham quan chùa Mahatup;

Ảnh: Trịnh Công Lý

     Trên thế giới hiện nay có 67 loài dơi thuộc giống Pteropus. Theo nghiên cứu chuyên đề về dơi ngựa của Vũ Đình Thống -Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật Việt Nam kết hợp với trường Đại học Columbia (Hoa Kỳ) được tiến hành từ năm 2001 - 2004, cho biết tại chùa hiện có 2 loài dơi chính là dơi ngựa Thái Lan (Pteropus lylei) có khối lượng từ 400g đến 450g/con và dơi ngựa lớn (Pteropus vampyrus) nặng từ 600g đến 1100g/con. Hai loài dơi này còn rất ít và hầu như chỉ còn tại Việt Nam mà chùa Dơi là điểm duy nhất, đã được ghi trong phụ lục II của công ước CITES từ năm 1989. Để bảo tồn đàn dơi, UBND tỉnh đã ban hành văn bản nghiêm cấm mua bán, săn bắt dơi dưới mọi hình thức. Năm 1985 Bảo tàng Hậu Giang cùng các cấp chính quyền địa phương lập biên bản quy định khu vực bảo vệ “Chùa Dơi” (Chùa Mã Tộc).

     Dơi là loài thuộc họ thú có cánh bay, cánh của chúng căng về hai phía, dài từ 1,1m - 1,5m, tốc độ bay nhanh nhất từ 50 - 60 km/h. Khác với loài chim, dơi là động vật có vú, có mỏ giống như loài chó Phóc, miệng có răng rất bén để gặm nhấm. Thức ăn của dơi là trái cây, không ăn lúa hay thịt cá. Dơi đi ăn vào ban đêm, ban ngày thì ngủ. Dơi có hai chân, mỗi bàn chân có 5 ngón và có móc nhọn cong như móc câu, trên bả vai mỗi cánh có một lưỡi móc, chúng không đứng đậu mà dùng hai chân móc lấy cành cây quay lộn đầu xuống treo mình lủng lẳng, kết lại với nhau như những chùm trái cây, lúc nào muốn thải phân hay nước thải, chúng dùng sức bậc mạnh hai phía cánh tung thân lên, mở móc cánh cấu chặt cành cây giữ thăng bằng và bắt đầu tuôn nước thải hoặc phân xuống, khi xong chúng lại ngủ lủng lẳng bình thường.

     Dơi sinh sản vào đầu tháng năm (dương lịch), dơi không đẻ trứng mà sinh con nên không xây tổ như các loài chim khác, khi sắp đẻ thì dơi mẹ một cánh móc lấy nhánh cây, một cánh đỡ lấy con ôm vào lồng ngực. Đẻ xong vài giờ dơi con bắt đầu mở mắt, lúc đó chúng đã biết đói, dụi đầu vào bú mẹ như chó con mới lọt lòng và trong đêm đó dơi mẹ vẫn đi kiếm ăn bình thường, chúng mang con theo, ôm ghì sát vào lồng ngực. Dơi con lớn rất nhanh, hơn một tháng tuổi chúng đã biết nắm níu nhánh cây, đồng thời cánh của chúng cũng bắt đầu mọc và mở rộng ra, sức mạnh dơi con tăng dần lên, lúc này dơi mẹ không còn đủ sức để đem con theo nữa, dơi mẹ tập bay cho dơi con. Với bản năng tự lực, dơi con tập chuyền từ nhánh cây gần đến nhánh cây xa, qua luyện tập nhiều lần, chúng từ từ biết vỗ cánh để bay. Chuyến bay đầu tiên của chúng nằm ở những cây thấp bậc, khoảng cách vài ba mét, đến lúc vững vàng thì bay sang ngang và bay theo hướng đường cao. Chúng tập bay ban đêm chứ không tập bay ban ngày, nhất là những đêm trăng sáng, chúng tập bay đan xen nhau trông rất đẹp. Thỉnh thoảng trong lúc tập bay có vài con bị rơi xuống đất không bay lên được, chúng lết đi từng bước tìm nơi nào có cây cao, dùng móc cánh ở bả vai câu chặt nhánh cây với độ cao khoảng 01m, chúng dùng sức mạnh của hai cánh đưa hai chân câu chặt nhánh cây, sau đó chúng trút đầu xuống, dồn sức bật mạnh, mở rộng hai cánh bay đi. Còn khi dơi mẹ xuống cứu con bị rớt xuống đất, một cánh chúng ôm ghì chặt lấy con áp vào lồng ngực, một cánh chống xuống đất bò nghiêng, cố tìm đến những cây cao để cất cánh, chẳng khác gì như xem xiếc.

     Dơi cũng biết yêu thương nhau, nhất là dơi mẹ, trước khi đi kiếm ăn dơi mẹ cho con bú và lúc trở về chúng đem mồi cho con. Sau thời gian từ lúc chào đời và sự tập luyện đó, bước vào tháng thứ ba dơi con bắt đầu biết bay, nhưng không đủ sức đi ăn xa, dơi mẹ tập tành, dẫn con đi ăn những nơi gần. Nhờ sự ôm ấp chăm sóc của dơi mẹ, dần dần dơi con bắt đầu trưởng thành gia nhập vào cộng đồng bầy đàn một cách nhanh chóng, cứ thế đàn dơi ngày được bổ sung.

     Du khách đến tham quan chùa Dơi không những được trải nghiệm phong cảnh thiên nhiên, quần thể kiến trúc mà còn để khám phá những quan điểm tâm linh về đàn dơi, tạo cảm giác thôi thúc khách tham quan đến viếng chùa ngày một đông hơn nhất vào các dịp cuối tuần, ngày lễ, tết.

     Theo quan niệm của người Hoa, con dơi còn có ý nghĩa là điềm phúc, phước của người Hoa là: “Phước - Lộc - Thọ”: Trong đó, ông Phúc (phước) ứng với con dơi. Ông Lộc ứng với con nai, Ông Thọ ứng với cây tùng, cho nên người Hoa xem hình tượng con dơi như là phúc. Con dơi ở chùa Dơi đậu quay đầu ngược xuống giống như hình chữ “phúc” treo ngược, theo phát âm của người Hoa là “pú tào” (tức là: “phúc đáo” nghĩa là phúc đến rồi). Vấn đề này cũng được ông Trần Bình viết bài đăng trên “Kiến thức ngày nay” (Xuân Quý Dậu 1993 trang 62 - 63). Cho nên, đó cũng là lý do có rất nhiều khách du lịch là người Hoa chọn chùa Dơi là điểm tham quan trong chuyến về Sóc Trăng.

     Theo tư liệu lý lịch di tích đã ghi chép, vào năm 1990, có một chiếc tàu thám hiểm đại dương tên là Calipso, do ông YVES. COUS TEAUX là thuyền trưởng và con ông ta là JACK COUS TEAUX đã đến Chùa Dơi để nghiên cứu về động vật môi trường thiên nhiên. Ông COUS TEAUX đã cho máy bay trực thăng bay đảo trên những tán cây trong khuôn viên chùa, đàn dơi bay lên rợp cả một góc trời, đoàn nhân viên của ông YVES. COUS TEAUX đã ghi hình ảnh bằng camera và máy ảnh để làm tài liệu nghiên cứu.

     Loài dơi sống rất gần gũi với chùa, chúng không chỉ treo mình lủng lẳng trên những cành cây mà còn được các vị sư chăm sóc và thuần dưỡng chúng như những động vật chó, mèo nuôi trong nhà. Vào khoảng năm 1980, vị Đại Đức trụ trì đời thứ 17 tên là Thạch Chia, Ông có nuôi một dơi con, dơi này luôn quấn quýt bên cạnh Ông. Đặc biệt, là khi Ông đi vắng, dơi ở lại phòng khách giữ nhà. Khi khách vào phòng nếu có Ông thì dơi không có hành động phản kháng nào, nếu không có Ông dơi liền phản kháng kịch liệt như một chú chó giữ nhà. Như vậy, dơi không chỉ sống ở môi trường hoang dã gần gũi với thiên nhiên, mà nó cũng gần gũi với con người, chúng cũng có những đặc tính riêng nếu con người biết cách thuần chủng chúng.

     Ngoài các quan niệm thú vị về đàn dơi, tại ngôi chùa này còn là nơi trú ngụ của loài heo 05 móng. Phía sau khuôn viên chùa Dơi hiện nay có 02 ngôi mộ chôn 02 con heo, được xây bằng xi măng và được vẽ hình trước mộ cùng với những dòng chữ ghi tuổi thọ và ngày chết một cách khá trân trọng. Theo quan niệm của người Khmer, heo năm móng là cốt tinh của người, nên những gia đình nuôi loài heo này sẽ phải gặp bất hạnh, xui xẻo.

     Theo lời kể của các vị sư, ngày xưa trong chùa có bà cụ tên Khiên, là người trông nom, quét dọn chùa. Một hôm, bà nằm mơ, thấy một vị Phật hiển linh bảo với bà rằng, ngày mai, sẽ có một nữ thí chủ đến chùa xin quy y. Bà trở dậy, thắp hương trên chánh điện. Sáng hôm sau, bà Khiên dậy sớm hơn thường lệ. Bà vừa làm công việc hằng ngày, vừa trông ra cổng xem có ai đến như giấc mộng báo hay không. Đợi đến trưa, bà nghĩ rằng giấc mộng không hiển linh nên bà Khiên tiếp tục công việc của mình. Tuy nhiên khi đi ra phần sau chùa bà Khiên ngỡ ngàng khi phát hiện có một con heo cái đang nằm ngủ ngon lành. Không biết heo nhà ai xông vào chùa, nên bà Khiên cầm chổi vỗ nhẹ vào mông, đánh thức heo dậy. Tuy nhiên, bà Khiên làm đủ cách mà con heo không chịu dậy, cứ ủn ỉn, rồi rên la, cứ đứng ì một chỗ, không chịu nhúc nhích. Bỗng có một người hét lên: “Heo năm móng bà ơi! Heo này thiêng lắm, là cốt tinh của người đấy! Nó vào chùa là có duyên với nhà chùa rồi bà ạ”. Lúc này, bà Khiên mới nhìn xuống chân con heo ấy, hóa ra là heo năm móng thật. Khi ấy, bà mới giật mình nhớ lại giấc mộng đêm qua. Thì ra, nữ thí chủ đến chùa quy y chính là “nàng heo” này. Với nhà Phật, con heo cũng là một kiếp sống, nên nhà chùa đối xử với heo như mọi thành viên khác trong chùa. Ngày nó chạy rong trong khuôn viên, tối chui vào ổ ngủ và đến bữa thì được các nhà sư mang đồ cho ăn. Thí chủ quy y kỳ lạ đó được mọi người đặt tên là cô Năm Hợi. Hằng ngày những người làm công quả và các sư sãi cùng thay phiên cho ăn, nên “cô Năm Hợi” lớn rất nhanh. Thế là mỗi sáng “cô Năm Hợi” được tự do chạy khỏi cổng chùa rồi men theo con lộ nhỏ ra hướng chợ Mùa Xuân, gần chùa để kiếm ăn. Trưa nhớ bữa, “cô Năm Hợi” lại về để ngóng mỏ, hỉnh mũi kêu ụt ịt đòi các sư cho ăn rồi lăn ra ngủ. Thấy nhà chùa không kiêng cử, có nhiều gia đình đem “heo 5 móng” gửi vào chùa gồm cả heo đực lẫn cái. Đặc biệt cứ vài tháng một lần, cả bầy heo lớn đi trước, heo nhỏ theo sau, tự động kéo nhau đi dạo một vòng từ chùa ra chợ Sóc Trăng cả vài cây số rồi tự động kéo về chùa. Được biết, hai con heo đầu tiên mà chùa nuôi là vào năm 1989, sống được 7 năm thì già chết nên nhà chùa đem chôn phía sau vườn. Về sau, có đoàn khách du lịch từ TP.HCM đến thăm chùa Dơi, thấy ngôi mộ lạ của con heo 5 móng thương cảm, chạnh lòng, góp tiền để nhà chùa xây cho nó ngôi mộ đàng hoàng, ghi tên, địa chỉ của các vị khách này lên bia mộ của “heo 5 móng”, để ghi nhận những tấm lòng yêu quý động vật. Hiện nay, khi đến tham quan chùa Dơi du khách tận mắt tham quan những chú heo 5 móng được nuôi dưỡng ở khu vực riêng. Ban đầu, heo được nuôi ở ngay trong khuôn viên chùa. Sau này, để đảm bảo vệ sinh và thuận lợi cho việc chăm sóc, đàn heo được di dời qua khu vực bên kia đường lộ, gần khu vực lò thiêu.

     Đặc biệt, trong khuôn viên chùa còn có ngôi miếu Bà Đen. Đây là đặc điểm khác lạ so với các ngôi chùa Khmer khác trong tỉnh Sóc Trăng. Được biết, Miếu xây dựng và hình thành trước năm 1999, hàng năm thu hút nhiều khách tham quan. Theo lời kể của một số người dân quanh vùng, miếu Bà Đen rất linh thiêng vì những điều cầu khấn thường hay ứng nghiệm trong thực tế. Lễ vật cúng bái Bà khá độc đáo là trái sơ ri chín mọng. Chính vì vậy, trái sơ ri được bán rất nhiều ở khu vực bên ngoài chùa Dơi. Với tấm lòng thành kính, ngoài vãn cảnh chùa Dơi, khá nhiều du khách còn muốn một lần được dâng hương ở miếu Bà Đen, cầu may mắn, bình an cho gia đình và người thân.

     Cái đẹp và sức thu hút của chùa Dơi là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, với một quần thể kiến trúc mở, hoà quyện với môi trường sống giữa con người - thực vật - động vật đã gắn bó với nhau từ rất lâu đời. Hơn nữa, cộng đồng dân cư ở đây có sự giao lưu giữa ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa kết hợp với tinh hoa văn hoá, nghệ thuật trong cuộc sống, học hỏi lẫn nhau cùng phát triển. Ngoài ra, chùa Dơi còn là trung tâm sinh hoạt, giáo dục - văn hóa, vừa là nơi tổ chức các lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer địa phương. Vào ngày 12 tháng 02 năm 1999, Bộ Văn hóa - Thông tin có Quyết định số 05/1999/QĐ - BVHTT công nhận Chùa Dơi là di tích nghệ thuật cấp quốc gia./.

 Tài liệu tham khảo:

[1]. Địa chí Sóc Trăng, Tỉnh ủy Sóc Trăng, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2012.

[2]. Di tích lịch sử - Văn hóa tỉnh Sóc Trăng, Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Sóc Trăng năm 2009.

[3]. Lý lịch di tích chùa Mahatup của Bảo tàng tỉnh Sóc Trăng.

[4]. “Kiến thức ngày nay”, tác giả Trần Bình đăng trên Xuân Quý Dậu 1993 trang 62 - 63.

[5]. Khảo sát thực tế tại chùa và phỏng vấn với các sư.

 Tân Trang

 
 
 
 

LIÊN KẾT WEBSITE